Chào mừng các bạn đến với website TBT Đồng Nai

Thành viên
   Đăng Nhập
 Quảng cáo Đóng


 Thương hiệu bưởi

  
 Lượt truy cập Đóng
  
 Hình ảnh hoạt động Đóng
 In Ấn   
 Tin tức & Sự kiện Đóng
Cam kết của Việt Nam trong WTO về kinh tế phi thị trường
[Ngày 08/08/2008]
Việt Nam đã đối mặt với những bất lợi của quy chế kinh tế phi thị trường trước khi trở thành thành viên WTO

Lần đầu tiên vấn đề kinh tế phi thị trường của Việt Nam được đề cập khi Hoa Kỳ quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với cá da trơn nhập khẩu từ Việt Nam. Tiếp đó, các vụ kiện của EU, Canada, Hàn Quốc... liên quan bán phá giá giày dép, bật lửa ga... cũng gắn với việc điều tra tính chất thị trường của nền kinh tế. Các vụ kiện bán phá giá đã tác động ở các mức độ khác nhau tới xuất khẩu các mặt hàng này của Việt Nam. Đồng thời đã cảnh báo về một vấn đề gai góc Việt Nam sẽ phải đối mặt khi đàm phán gia nhập WTO.

Hoa Kỳ là quốc gia trực tiếp nêu yêu cầu đưa lời văn về kinh tế phi thị trường vào trong Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam. Việt Nam giữ quan điểm cho rằng, việc duy trì sự phân biệt đối xử giữa các nền kinh tế thành viên WTO dựa trên “tính chất thị trường” không phản ánh sự thay đổi của kinh tế chính trị thế giới trong những thập kỷ qua và không phù hợp với thực tiễn. Đồng thời, quy trình xem xét tính chất thị trường của một nền kinh tế mang nặng yếu tố chủ quan, dựa trên nội luật của các quốc gia, do đó không nên đưa vào khuôn khổ cam kết đa phương trong WTO. Tuy nhiên, xét tới hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và những tiền lệ các nước gia nhập trước, có thể dự báo Việt nam khó có thể tránh việc cam kết về kinh tế phi thị trường. Do tính phức tạp của vấn đề, điều khoản này chỉ được thoả thuận trong giai đoạn cuối của đàm phán.

Nếu so sánh về sức ép trong đàm phán về vấn đề NME thì Trung Quốc phải chịu sức ép lớn hơn so với Việt Nam. Nền kinh tế Trung Quốc có tốc độ phát triển và sức cạnht ranh cao. Việc áp đặt quy chế kinh tế phi thị trường 15 năm cùng các điều khoản đặc biệt khác cho phép Hoa Kỳ và các nước khác có được những công cụ lợi hại để đối phó với sức cạnh tranh (đặc biệt về giá) của hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Trong trường hợp Việt Nam, mặc dù không phải chịu sức ép lớn như Trung Quốc nhưng Việt Nam khó tránh khỏi cam kết về vấn đề này bởi hai lý do cơ bản:

Cho tới thời điểm kết thúc đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam vẫn nằm trong danh sách các nền kinh tế phi thị trường của cả Hoa Kỳ và EU. Mặc dù trong cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đưa ra những cam kết rất mạnh mẽ về cải cách chính sách tài chính - tiền tệ, đầu tư, doanh nghiệp Nhà nước... theo định hướng thị trường nhưng chắc chắn các thành viên muốn duy trì tối đa các công cụ có thể nhằm đảm bảo việc thực thi các cam kết này. Đồng thời, với việc Việt Nam bị áp đặt quy chế kinh tế phi thị trường trong 12 năm, việc trao quy chế kinh tế thị trường trước thời hạn có thể được sử dụng như một công cụ mặc cả trong các vấn đề khác sau này.

Trung Quốc, một nền kinh tế có điều kiện tương đồng với Việt Nam đã cam kết điều khoản về kinh tế phi thị trường trong Nghị định thư gia nhập. Điều này đã tạo ra một tiền lệ và những nước gia nhập sau, có điều kiện tương tự khó tránh khỏi cam kết điều khoản này trong Nghị định thư của mình. Việc Hoa Kỳ không đặt ra vấn đề kinh tế phi thị trường với Việt Nam có thể bị coi là phân biệt đối xử, thiếu nhất quán trong chính sách. Nó cũng có thể là cơ sở cho Trung Quốc đấu tranh đòi xem xét lại điều khoản về kinh tế phi thị trường trong Nghị định thư gia nhập WTO của mình.

Nội dung cam kết của Việt Nam hoàn toàn tương tự như cam kết của Trung Quốc. Trong vòng 12 năm (từ 1/1/2007 tới 31/12/2018) khi một nước nhập khẩu là thành viên WTO quyết định áp thuế chống bán phá giá với hàng nhập khẩu từ Việt Nam, họ có quyền dựa trên chi phí sản xuất thực tế của Việt Nam hoặc sử dụng chi phí sản xuất của một quốc gia khác có điều kiện tương tự làm cơ sở tính toán mức phá giá, trợ cấp.

Trong cam kết của mình, Việt Nam cũng đưa ra quy tắc để lựa chọn phương pháp phù hợp cho các cuộc điều tra về chống bán phá giá và trợ cấp liên quan đến tính chất thị trường của nền kinh tế là:

Nếu các nhà sản xuất trong điều kiện điều tra có thể chi ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán mặt hàng đó, nước nhập khẩu là thành viên WTO khi xác định tương quan giá cả phải sử dụng giá và chi phí ở Việt Nam cho ngành sản xuất trong diện điều tra.

Nước nhập khẩu là thành viên WTO có thể sử dụng một phương pháp không dựa trên sự so sánh chặt chẽ với giá cả và chi phí ở Việt Nam nếu các nhà sản xuất trong diện điều tra không thể chỉ ra rõ ràng rằng các điều kiện của nền kinh tế thị trường đang tồn tại trong ngành sản xuất mặt hàng tương tự liên quan đến sản xuất và bán những mặt hàng đó.

Điều đáng lưu ý là các nước có nền kinh tế chuyển đổi mới gia nhập WTO cũng vẫn phải chịu các quy chế về xác định tính chất thị trường của nền kinh tế, dẫu trong Nghị định thư gia nhập của họ không có điều khoản miễn trừ hoặc bảo lưu nào về vấn đề này. Đây là sự phân biệt đối xử giữa các thành viên WTO. Còn các nước vẫn duy trì quy chế này thì viện dẫn đến “Điều khoản áp dụng tạm thời” của GATT để biện hộ cho hành động của mình. Việc khai thác quy chế về kinh tế phi thị trường cho họ một công cụ hoặc để gây ảnh hưởng về chính trị hoặc kiềm toả xuất khẩu từ các nền kinh tế phi thị trường có sức cạnh tranh cao.

Rõ ràng xét trong bối cảnh thế giới hiện nay, kinh tế phi thị trường là bất hợp lý và đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản của WTO. Những quy định mang tính phân biệt đối xử này đặt các quốc gia bị coi là kinh tế phi thị trường vào tình thế hết sức bất lợi khi trở thành đối tượng của các vụ kiện bán phá giá. Nhưng đó là thực tế mà Việt Nam cũng như bất kỳ quốc gia NME nào khác phải đối mặt tới khi có thể thay đổi được nó. Tuy nhiên, xét về mọi phương diện, cam kết trong WTO về kinh tế phi thị trường là tốt hơn đối với Việt Nam bởi 3 lý do:

Thứ nhất, không phụ thuộc việc Việt Nam có cam kết điều khoản về NME trong WTO hay không, Việt Nam vẫn bị một số quốc gia coi là nền kinh tế phi thị trường với thời hạn không xác định. Cam kết trong WTO đưa ra thời hạn tối đa cho việc áp dụng quy chế này là 12 năm. Đồng thời, Việt Nam có cơ hội kết thúc sớm thời hạn này nếu chứng minh được tính chất thị trường của nền kinh tế, phù hợp các tiêu chí quy định trong nội luật của nước thành viên WTO.

Thứ hai, trong các vụ việc trước đây, Hoa Kỳ đã điều tra và kết luận tính chất phi thị trường của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, mặc dù các vụ kiện chỉ liên quan đến một ngành sản xuất nhất định. Điều này làm hạn chế cơ hội của các ngành chứng minh những ưu thế sản xuất do điều kiện đặc thù về tự nhiên, lao động... của ngành mình. Tuy nhiên, theo cam kết trong WTO, nếu Việt Nam khẳng định được rằng các điều kiện của kinh tế thị trường đã tồn tại trong một ngành cụ thể chiểu theo luật quốc gia của nước nhập khẩu là thành viên WTO, các quy định trong tiểu mục liên quan tới kinh tế chưa phải là kinh tế thị trường sẽ không còn áp dụng được cho ngành đó. Điều này có nghĩa một số ngành kinh tế của Việt Nam có cơ hội chứng minh tính chất thị trường của mình ngay cả khi Việt Nam vẫn chịu quy chế phi thị trường. Đó là cơ hội quan trọng cho các doanh nghiệp hạn chế rủi ro khi vướng vào các vụ kiện phá giá.

Thứ ba, Việt Nam đang trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường. Mặc dù đã đạt được những kết quả khả quan trong quá trình này, nhưng có thể nói, một số lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam còn bị ảnh hưởng của thời kỳ kinh tế tập trung và Việt Nam đang quyết tâm nhanh chóng chuyển sang kinh tế thị trường. Vì vậy, cùng với việc đáp ứng các yêu cầu của một số nước thành viên về kinh tế thị trường, việc cải cách thể chế kinh tế thị trường cũng là yêu cầu khách quan, nội tại của nền kinh tế, là quyết tâm của Đảng và Chính phủ Việt Nam.

Bên cạnh những tác động mang tính tích cực nêu trên, việc Việt Nam chưa được một số nước công nhận là có nền kinh tế thị trường sẽ có những bất lợi đối với nước ta:

Thứ nhất, Việt Nam sẽ phải đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của các nước, chủ yếu là EU và Hoa Kỳ từ các quy định nội luật của các nước này như đã nêu ở trên. Thực tế là từ năm 2001 đến nay, Việt Nam đã phải đối phó với hơn 10 vụ kiện chống bán phá giá từ các nước. Điều này gây thiệt hại đối với doanh nghiệp nước ta và hầu hết trong các vụ kiện trên Việt Nam chưa thắng kiện vụ nào. Mặc dù các vụ kiện chống bán phá giá liên quan tới quy chế NME thường mang màu sắc chính trị hơn là được điều tra dựa trên những cơ sở kinh tế. Những nước đi kiện thường không quan tâm đến việc liệu những nước bị kiện có thực sự bán phá giá hay không mà họ chỉ cố tình tìm mọi cách chứng minh nước bị kiện có bán phá giá và đưa ra mức thuế chống bán phá giá cao nhất có thể bằng cách sử dụng những biện pháp theo ý chủ quan và không theo quy luật quốc tế. Do vậy, việc đối phó với các vụ kiện này cũng càng khó khăn hơn, bởi ngoài việc dựa trên các luận chứng kinh tế đơn thuần, nước bị kiện cũng phải có những động thái chính trị phù hợp để giảm thiểu yếu tố bất lợi của các phán quyết, vì một khi đã áp dụng quy chế NME thì nước bị kiện nhất định sẽ bị coi là bán phá giá.

Thứ hai, việc bị coi là nền kinh tế phi thị trường làm giảm hình ảnh của Việt Nam trong thương mại quốc tế. Nhiều nước dựa vào lý do Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường để đưa ra những điều kiện phi lý trong buôn bán với Việt Nam, làm cho nước ta ở vào thế bất lợi trong cạnh tranh thương mại quốc tế. Chẳng hạn, so với một số nước như Băng la đét, Kazacstan, những nước có điều kiện sản xuất tương đồng như nước ta, do bị áp thuế bán phá giá mà hàng hoá cảu nước ta khó tiếp cận hơn vào các thị trường EU và Hoa Kỳ.

(Theo Vinanet)



Các tin khác
Nháo nhác vì tin đồn xăng tăng giá 06/08/2008
Tiêu đề Tin cảnh báo tuần 4 tháng 7 năm 2008 05/08/2008
Tin cảnh báo tuần 3 tháng 7 năm 2008 29/07/2008
Sắp ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mũ bảo hiểm 21/07/2008
Kiểm tra xử lý các cơ sở kinh doanh, sản xuất “mũ gấp” giả mạo dấu phù hợp tiêu chuẩn CS TCVN 5756:2001 20/05/2008
“Vào WTO, cái được lớn nhất là minh bạch hóa” 20/05/2008
ĐTNN hậu WTO: Tăng tốc nhưng vẫn còn lãng phí vốn 20/05/2008
Tọa đàm về tham gia hoạt động IEC quốc tế và sử dụng tiêu chuẩn IEC ở Việt Nam 20/05/2008
Hơn một năm gia nhập WTO: Doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn 20/05/2008

 
  
 Thăm dò ý kiến Đóng
Theo bạn, trong các nội dung đào tạo và tư vấn sau, nội dung nào các doanh nghiệp VN sẽ cần hơn ?




Gửi Điều Tra  Xem Kết Quả
  
 Mạng lưới TBT Đóng
  
 Thống kê Đóng
People Online People Online:
Visitors Visitors: 4
Members Members: 0
Total Total: 4